Thế mà lại có những người vỗ tay, nhưng tôi đồ rằng trong số đó có cả những người vỗ tay a dua, kiểu như thấy hoàng đế không mặc gì nhưng ai cũng khen bộ quần áo hoàng đế mặc đẹp vì không khen thì bị bảo là ngu. Căn bệnh a dua đã khiến cho nhiều họa sĩ hoang tưởng. Cũng có một số họa sĩ bán được tranh theo xu hướng đó, thế là họ lao vào vẽ tranh lập thể, tranh trừu tượng, tự huyễn hoặc chính mình và trở thành những “đệ nhất tinh tướng”, cao giọng tuyên ngôn phải vẽ thế mới thời thượng, thậm chí có người còn tự làm giá tranh của mình 10 triệu đô hoặc 10 tỷ đồng… Còn hỏi thì họ lại bảo rằng, vẽ tranh mà phải giải thích là vẽ cái gì thì không còn là hội họa, rằng bảo người khác cảm nhận như mình là điều rất khó, nhưng nếu tranh gây được ấn tượng là tốt rồi.

Vì thế, đa số công chúng chán, không còn muốn đi xem các phòng tranh chứ đừng nói đến việc mua tranh. Nói như thế không phải người Việt không chơi tranh, nhưng nó vẫn thuộc thú chơi cao cấp và xa xỉ nên chỉ những cơ quan lớn, công ty lớn, khách sạn mua tranh với mục đích tăng cường quan hệ thương mại, tức là tự làm sang mình để mưu cầu việc khác chứ không phải để thưởng thức nghệ thuật. Có thể nói, hiện nay, giới họa sĩ là những người giàu nhất trong giới nghệ thuật. Một khi nét vẽ của họ đã đúng “luồng” thì mỗi bức có giá hàng nghìn USD, khá hơn có thể 10.000 USD hoặc hơn thế với những bức vẽ khổ to. Và không ai không giật mình khi nghe tin bức vẽ của hoạ sĩ này, hoạ sĩ nọ đã từng được đặt giá 100.000 USD nhưng không hiểu đã bán được chưa.

Từ đối tượng khách hàng như thế, đa số họa sĩ hiện nay đã rời bỏ chức năng dùng hội họa để phản ánh cuộc sống mà chọn đề tài theo sự yêu thích của khách hàng. Xu hướng khách hàng thích gì vẽ nấy đã thu hẹp phạm vi sáng tạo của nghệ sĩ. Thậm chí có họa sĩ đi maketing trước nhu cầu của khách hàng rồi mới về “sáng tạo”. Lại có cả họa sĩ tên tuổi hẳn hoi, khi thấy loại tranh đó bán chạy đã vẽ hàng loạt như kiểu sản xuất đồ mỹ nghệ. Đôi khi anh ta cũng giật mình, muốn phá phách nhưng lại tự nhủ “khéo mà hỏng” nên đành co lại. Yên ổn và thành công dẫn người họa sĩ đến chỗ trì trệ. Cũng lại có họa sĩ vẽ kiểu commăng, giá cả đã thỏa thuận, khi đó chẳng còn đâu sự sáng tạo mà vẽ theo ý đồ của người bỏ tiền mua.

Đánh giá một cách thật nghiêm túc, chục năm trở lại đây, các họa sĩ Việt Nam đã tạo ra một không khí tưng bừng và dân chủ trong hội họa. Song có điều ý thức vẽ tranh để bán, nghĩa là coi mục đích thương mại hơn mục đích nghệ thuật đang trở thành ý thức chủ đạo dẫn dắt việc sáng tác của rất nhiều họa sĩ để đến mức những họa sĩ tâm huyết phải thốt lên “tranh Việt Nam thương mại quá mức rồi”. Goocki từng nói một câu đại ý là: chúng ta viết để làm gì thì sẽ dẫn đến việc viết như thế nào. Đối tượng và mục đích của hội họa như thế nên chẳng có gì ngạc nhiên khi hội họa Việt Nam chịu ảnh hưởng các trường phái phương Tây, nghiêng về vẽ trừu tượng và siêu thực, vẽ những cái mà người xem chẳng hiểu và chẳng giải thích được. Đó là cái bệnh của hội họa Việt Nam khi chịu ảnh hưởng phương Tây, dẫn tới phương pháp sáng tác xa lạ với hội họa truyền thống Việt Nam.