VỀ KHOẢNG TRỐNG TRONG BỐ CỤC

Người Á Đông đã đi trước phương Tây rất lâu về cách dùng khoảng không trong bố cục.

Về triết lý của khoảng không, Đạo Đức Kinh của Lão Tử, chương 11, có viết (Nguyễn Văn Thọ dịch):

Dịch nghĩa:

Ba chục căm, hợp lại một bầu. Nhờ chỗ «trống không», mới có cái dùng của xe.
Nhào đất để làm chén bát. Nhờ chỗ «trống không», mới có cái dùng của chén bát.
Đục cửa lớn, cửa sổ để làm nhà; nhờ có chỗ trống không, mới có cái dùng của nhà.
Cho nên lấy cái «có» để làm cái lợi, lấy cái «không» để làm cái dụng.

Dịch thơ:

Bánh xe ba mươi tai hoa,
Cái bầu giữa trống, nó nhờ nó quay.
Bát kia lấy đất dựng gầy,
Nhờ lòng bát rỗng, mới hay đựng đồ.
Làm nhà trổ cửa nhỏ, to,
Nhờ cửa mở trống, cái nhà mới quang.
Hữu hình để chở, để mang,
Vô hình mới thực chính tang «cái dùng».

Trong nghệ thuật Á Đông, cái mà phương Tây gọi là không gian âm (negiative space), người Nhật gọi là “ma” (間) mà phiên âm Hán-Việt của ta gọi là “gian” (ví dụ nhà 3 gian 2 chái ở nông thôn, có ba khoảng trống lớn ở giữa). “Ma” hay “gian”có nghĩa là khoảng hở, không gian trống, khoảng lặng, không gian giữa hai câu trúc hay vật thể.

Trong tranh lụa hay giấy cuốn treo tường hoặc bình phong của Nhật, “ma” không phải là một cái gì rỗng không mà là một phi vật thể tồn tại song song, không thể tách rời khỏi vật thể. “Ma” tạo một hình thể cho toàn bố cục (ví dụ bức nhị bình Những cây thông của Hasegawa Tohaku (1539 -1610)cho thấy “ma” đã được sử dụng như thế nào, trước Cái chết của Marat của J.L. David gần 2 thế kỷ.

“Những cây thông” của Hasegawa Tohaku – bức trái

“Những cây thông” của Hasegawa Tohaku – bức phải

 

Chỉ sau này, khi phương Tây đã “ngấm chưởng” Á Đông, Cézanne, Giacometti, v.v. mới bắt đầu xử lý khoảng không như vật chất trong hội họa, điêu khắc; John Cage sáng tác nhạc phẩm “4 phút 33 giây” không có một nốt nhạc nào, còn Robert Rauschenberg vẽ những bức tranh trắng. Tuy nhiên phương Tây vẫn không hề có một từ hoặc thuật ngữ nào thật sự tương đương với “間”(ma, gian).

 

Hội họa trắng của Robert Rauschenberg