Chúng ta thường nói hội họa là nghệ thuật của nét, khối, màu, tức là nói về hình ảnh của hội họa. Hay hội họa là nghệ thuật bố trí tung hoành trong một không gian hai hay ba chiều, tức là nói về bút pháp của hội họa. Hay hội họa là nghệ thuật sử dụng những chất liệu như vải, giấy, sơn, mực,v.v… tức là nói về kỹ thuật của hội họa. Nói như thế vẫn chưa đủ. Tất cả những yếu tố đó gộp lại mới chỉ làm nên hình trạng của hội họa. Chưa phải là chân chất, là thể tính của hội họa.

 

Tiếng Hán có câu: Ngôn Vi Tâm Thanh, nghĩa là “tiếng nói là cái tiếng của tâm” (1). Tâm ư? Đó là chuyện đã đành. Cách đây gần 500 năm, thiên tài Ý Đại Lợi Leonardo da Vinci đã  có nói:”Hội họa là một vận dụng của trí tuệ ” (2). Năm thế kỷ trước đó, đại thi hào kiêm đại họa sĩ Tô Đông Pha đời Tống cũng đã có nói: “họa là để diễn tảm tâm tình” (3). Đông Tây, cổ kim đều xem hội họa như một thế giới của tâm. Xin quí vị hiểu cho chữ tâm ở đây trong nghĩa tâm hồn, tâm linh, tâm tình,tâm tư,tâm tưởng, v.v…không trong nghĩa Tâm của nhà Phật vốn mang một ý nghĩa siêu quát và nhiệm mầu vô vàn.

 

Tâm ở đây không phải chỉ là lòng dạ, là xúc cảm, là ưu tư. Tâm ở đây còn có nghĩa là ý tưởng, ý chí, là ý niệm, ý thức.

 

Vương Duy hay vẽ núi, chẳng phải vì ông yêu thích cái cảnh mây trời bát ngát, mà còn vì, mà chính vì trong cõi thiên địa mông lung ông vẽ được con đường Chân Như. Tô Đông Pha ưa vẽ tre, không phải chỉ vì nhà ông dựng bên sườn núi có nhiều tre nhiều trúc, cũng chẳng phải vì cây tre, như trong câu “Tùng Cúc Trúc Mai”, tượng trưng cho tiết tháo của người quân tử. Ông vẽ tre còn vì ông muốn đả phá lối vẽ tô điểm, lối vẽ kể chuyện, còn vì ông muốn đề cao đường lối Trung Hoa thời trước gọi là “Văn nhân họa”.

 

Nói một cách khái quát, hội họa vốn từ xa xưa đã được xem như một ngôn ngữ của tâm , như văn, như thơ, như nhạc. chân chất của hội họa chính là một môi trường biểu hiện của con người trong vũ trụ . Không phải, như có người vẫn tưởng lầm, một thứ “nghệ thuật” hàng hai, có tính cách trang trí, tô điểm, có tính cách vuốt ve, mua vui, khêu gợi những tình cảm vụn vặt, vỗ về những ước mơ tầm thường. Hội họa lại càng không phải, như có người nghĩ, một thứ “thế giới đóng kín” trong đó người nghệ sĩ có thể “sống biệt lập” (4).

 

Phương thức thực hiện và biểu hiện có khác nhau, tác dụng tâm linh và tình cảm có  khác nhau, nhưng hội họa, như văn, như thơ, chính là một “ngôn vị tâm thanh”. Ấy vậy mà hôm nay, trước quí vị đồng hương, trong hòan cảnh xa xứ, chúng tôi, một họa sĩ Việt Nam, xin thưa: Hội họa không những chỉ là một ngôn ngữ của tâm, hội họa còn là một ngôn ngữ của thân nữa. Chúng tôi xin nhại lại cái câu của người xưa mà nói rằng: “Họa Vi Thân Tâm Ảnh”! Họa là hình ảnh, bóng dáng của thân tâm.

 

 

Đề tài chính không còn là câu chuyện, là hiện tượng khách quan. Đề tài chính là hình tượng của tác phẩm. Mà hình tượng trong lãnh vực hội họa, khác với thơ, văn, hay nhạc,là một hiện tượng có vị trí trong cả không gian và thời gian. Trong chiều hướng ấy, nghệ thuật VŨ (trong nghĩa vũ-khúc cổ điển, ballet classique, choreography, cũng trong nghĩa thuật, như võ Thiếu Lâm, võ Bình Định,v.v..) gần gũi với nghệ thuật họa hơn. Vì cũng thường đi với Nhạc, vốn là một nghệ thuật của thời gian, nhưng bằng vào những động tác và tư thế đặc thù của mình, chiếm cứ không gian và lấy không gian làm môi trường biểu hiện.

 

Một tác phẩm hội họa xứng đáng với tên gọi của nó là một ngôn ngữ chúng ta phải đọc, đọc như đọc thơ, đọc văn, đọc nhạc. Mà đã nói đọc, tức là nói tiến trình, nói thời gian. Đồng thời, tự thân của tác phẩm hội họa cũng là một thực thể. Mà đã nói thực thể tức là nói không gian. Thời gian-không gian, đó chính là môi trường hiện hữu của thể tính hội họa. Nói như thế không có nghĩa là khẳng định mộ nghệ thuật thời gian như Thơ là một nghệ thuật thấp (hay cao) hơn. Ở đây không có việc đánh giá có tính cách võ đóan, nếu không nói là phi lý và ngu xuẩn ấy. Ở đây chúng ta chỉ nói đến hội họa như một nghệ thuật không những của tâm mà cũng của cả thân – trong mục đích nhận định, và lĩnh hội.

 

Nhà thơ Vương Duy đời Đường, thế kỷ VIII, thường được người đương thời xưng tụng là “thi phật”, cũng là tổ sư của họa phái Nam tông, đã có nói: “ý niệm về hình tượng sinh động và uyển chuyển là động cơ thúc đẩy và dẫn dắt bút thế vậy” (5). Mười hai thế kỷ sau, học giả mỹ học Anh cát lợi , Sir Herbert Read cũng có viết :”Những tác phẩm mỹ thuật là những công trình có thực thể và thực tại. Chúng có thể tiềm tàng những cảm xúc riêng tư, chúng có thể mang một bộ mặt hoặc thiện hoặc ác, hoặc bi hoặc hài, nhưng những biểu hiện này không phải là cái nội dung chúng ta có thể đem ra mà kiểm xét. Cái mà chúng ta có thể kiểm xét được là những hình tương tự chúng đem lại cho ta một ý niệm hiện hữu, một thực tại, đúng hơn, một “mảnh” thực tại, được cấu tạo bởi bàn tay con người” (6).

 

Chúng ta phải cẩn thận đừng đồng nhất cái thực tại của một họa phẩm trong không gian (ví dụ: sơn, vải, giấy, mực, kích tấc dọc ngang…) với thực tại mà Vương Duy và Sir Herbert nói đến đây. Thực tại này là hình tượng, (Pháp ngữ là forme, Anh ngữ là form) trong họa phẩm. Và hình tượng chỉ có thể biểu hiện trong không gian, như một biến thể của thân xác người nghệ sĩ.

 

Đến ngang đây, chúng ta hãy lưu ý đến một khía cạnh khác của hiện tượng “thân” này. Cũng bởi vì có thân tâm nên mới có hình tượng, cho nên ngược lại, hình tượng có khả năng gợi cảm sâu xa đối với thân tâm. Cứ lấy một nét vẽ, một nét mà thôi, làm ví dụ. Tất cả những dạng thái của nét này như ngắn hay dài, thẳng hay cong, gãy gọn hay sắc bén, từ tốn hay hối hả… có mãnh liệt khêu động ở chính thân tâm người đọc và xem tranh những xúc cảm tương đương nhưng những xúc cảm đó lại độc lập với bối cảnh của nét vẽ đó, tức là đế tài. Một nét vẽ đẹp mà còn như thế, huống hồ toàn bộ một bức họa – xin nhắc lại, một bức họa xứng đáng với tiêu chuẩn mỹ thuật – vốn là một hệ thống thiên hình vạn trạng của bao nhiêu đường nét, bao nhiêu hố sâu, bao nhiêu mặt phẳng… Cấu tạo hội họa, và lĩnh hội, đúng mức, là đi tới hội họa với tất cả con người vậy.

 

Một thiền sư Việt Nam đến thăm phòng tranh. Sau đó, ông có viết: “…Tôi đi trong phòng triển lãm (…) mà chân không dám bước mạnh vì sợ đau những đường nét (của người họa sĩ). Tôi đi trong hồn các anh và tự nhiên tôi đã trở thành thận trọng, bởi vì tôi chợt thấy đường nét và mầu sắc chính là tim óc, thần kinh, và tế bào của người nghệ sĩ…” (7). Trong mấy năm sau đó, mỗi lần nhớ đến mấy dòng chữ ấy của vị thiền sư, chúng tôi lại mỉm cười một mình. Lời văn của ông thật đẹp, nhưng có chút gì quá văn hoa, quá tượng trưng, nếu không nói là bay bướm! Rồi cuộc đời đưa đẩy, chúng tôi được sống qua một vài kinh nghiệm đáng gọi là dị thường. Một vài kinh nghiệm có tác dụng lay chuyển tận gốc rễ một số nhận thức và ý niệm của chúng tôi. Chợt đến khi tình cờ đọc lại những dòng chữ trên của vị thiền sư, chúng tôi mới chưng hửng thấy rằng quả thật có như vậy. Đường nét và mầu sắc, chính là tim óc thần kinh! Trong một nghĩa thực tại, không hoa hòe hoa sói gì cả. Thế mà xưa nay chúng tôi cứ nghĩ rằng hội họa, vốn là cái nghiệp tay phải của chúng tôi, chỉ là một vận dụng của trí tuệ và tâm tình. Nghĩ như Tô Đông Pha.

 

Có thể chúng tôi hiểu lầm, hay hiểu một cách hạn hẹp những lời nói của các ngài đại danh họa tiền bối, các họa thánh, họa tổ này. Có thể lắm. Nhưng dẫu sao đi nữa, vấn đề được đưa ra hôm nay vẫn còn nguyên vẹn . Nguyên vẹn vì chúng tôi ước ao rằng: nhận định hội họa như một ngôn ngữ của thân tâm, có thể đem lại một nguồn sinh khí cho nghệ thuật tạo hình Việt Nam tự do. Một nguồn sinh khí vốn đã róc rách chảy sâu trong cái “Đạo” của Đông Phương cổ truyền.